[Windows] – Distributed FIle System – DFS.

DFS (Distributed File System): Hệ thống file phân tán có từ thời 2k8.
Đối tượng triển khai: File Server
Mục đích triển khai: Hướng đến 2 mục tiêu (hoặc 1 trong 2).
Mục tiêu 1: Chia tải và chịu lỗi
Chia tải (Load Balancing): tại 1 thời điểm, nếu file server chỉ có 1, nó tiếp nhận quá nhiều kết nối thì sẽ xử lý không nổi => ta nên xây dựng từ 2 file server trở lên để có thể chia tải
=>dữ liệu trên các file server cần phải đồng nhất ( muốn đồng nhất thì admin copy từ server này sang server kia nếu có sự thay đổi !!!! )
Chịu lỗi (Fail Over): Nếu có 1 file server mà bị chết bất ngờ thì tiêu… Ta cần nhiều server để dự phòng => dẫn đến server 1 hỏng thì phải thông báo cho user để họ chuyển sang truy cập server khác !!!!).
Chỉ riêng việc chia tải và chịu lỗi cũng  làm mệt admin rồi
DFS giúp ta chia tải tự động, đồng bộ dữ liệu tự động. Chịu lỗi trong suốt đối với user ( 1 server chết thì user cũng không biết, vẫn có thể  truy suất file server bình thường).
Mục tiêu 2: Tập hợp dữ liệu
Công ty có nhiều chi nhánh, mỗi chi nhánh có 1 file server => dữ liệu trên các file khác biệt nhau
Tại văn phòng chính, ta muốn dữ liệu trên các file server của chi nhánh tập hợp về văn phòng chính
Ta có 2 cơ chế làm việc này
+ Nhân viên cầm USB đến các chi nhánh copy dữ liệu mỗi chiều ( !!!!)
+Tự động tập hợp về văn phòng chính ( dùng DFS).
 Mình đã trình bày mục đích cũng như tình huống để sử dụng DFS. Ta hãy cùng tìm hiểu về các khái niệm liên quan đến DFS
Namespace: đường dẫn luận lý mà user sẽ truy cập.
Trong namespace là cây thư mục
Có 2 loại thư mục:
Loại 1: Chỉ mang tính chất cấu trúc ( chỉ dùng để bố trí, phân nhóm, sắp xếp dữ liệu)
Loại 2: Có target folder – Là 1 share folder ( dữ liệu lưu trữ ở file server).
Namespace được lưu trữ trong Namespace Server
Namespace Server quản lý  Namespace và đường dẫn vật lý đến các target folder (Namespace server được xem như người dẫn đường)
Yêu cầu khi triển khai DFS:
+ Số lượng File Server ít nhất là 2 trở lên.
+ Namespace Server nên có 2 cái trở lên ( vì nếu 1 cái thì khi hỏng sẽ không thể dẫn đường đến các file server)
Có 2 loại môi trường:
Stand Alone: dành cho các server ở workgroup muốn triển khai DFS ( chỉ có thể tạo 1 namespace server)
Domain: có thể tạo 2 namespace server trở lên
Có thể tích hợp : File server vào namespace server
Thực tế khi triển khai DFS: ta cần 2 server vật lý. Trên mỗi server ta sẽ đồng thời là file server và namespace server (như vậy ta có 2 file server, 2 namspace server).
Cấu trúc namespace sẽ được lưu trữ trên namespace server trong thư mục DFS root. Nó chứa cấu trúc dữ liệu lưu trữ trên file server.
Nếu lấy Namespace server và File server chung 1 máy thì thường hay bị nhầm lẫn giữa cấu trúc namspace với không gian lưu trữ dữ liệu (file server) => dẫn đến việc admin nhầm lẫn cấu hình cho phép người dùng lưu trữ trên DFS root (DFS root để quản lý nên chỉ những người có chức năng mới được cấp quyền).
Replication Group:  là thông số sẽ xác lập việc đồng bộ giữa các file server bao gồm 3 yếu tố:
Yếu tố 1Các file server nào, đồng bộ các folder nào
Yếu tố 2Topology : là cấu trúc mà các server trao đổi thông tin. Gồm 3 loại:
1/ Hub-Spoke: ( Các Spoke đồng bộ về Hub)
Điều kiện: ít nhất 2 spoke member và 1 hub member ( tối thiểu 3 máy).
Dùng trong trường hợp: tập hợp dữ liệu( tập hợp dữ liệu ở chi nhánh (Spoke) về văn phòng chính (Hub).
Hub-Spoke
Topology DFS

2/ Full Mash:  (Bao nhiêu server cũng được)
Một Server sẽ đồng bộ với mọi server còn lại
Dùng cho mục tiêu chia tải và chịu lỗi
3/ Custom: Giống Full Mash nhưng bỏ vài hướng kết nối. Chúng ta có thể tự mình tạo cơ chế đổng bộ dựa vào dạng này (VD: Ring topology)
Yếu tố 3: Cơ sở cho hoạt động đồng bộ. Có thể chọn 1 trong 2
a/ Percent Bandwidth: định ra hoạt động đồng bộ sẽ chiếm bao nhiêu phần trăm (%) trong tổng băng thông khả dụng (Bandwidth). Hoạt động đồng bộ sẽ thực hiện 24/7.Thường dùng cho mục tiêu chia tải và chịu lỗi.
b/ Schedule: chạy theo lịch đặt sẵn, khi chạy sẽ chiếm 100% bandwidth.
Dùng cơ sở này cho mục tiêu tập hợp dữ liệu( vd: cứ 10h tối là các spoke sẽ tập hợp dữ liệu về Hub)
Triển khai:
2012may1: DC đóng vai trò vừa namespace server vừa là file server.
2012may2: Member computer vừa namespace server vừa là file server.
Bước 1: Trên Namespace Server và File Server 
Mở Server Manager ->Manage -> Add Roles and Features -> Next đến
Select Server  Roles: Bung File and Storage Service  ->  Check vào DFS Namespace và DFS Replication
( Nếu File Server và Namespace Server riêng thì File Server cài DFS Replication, Namespace Server cài DFS Namespace)
-> Next
DFS 1
Add Roles DFS

Next mặc định và Install
DFS 2
Làm tương tự cho 2012may2
Bước 2: Thực hiện trên File Server
Trên File Server:  tạo và phân quyền các thư mục chứa dữ liệu
Trên máy 2012may1: tạo folder Data chứa 2  folder con (subfolder) là NhanSu(xóa group Users, Group Nhansu: Modify)  và KeToan (xóa group Users, Group KeToan: Modify)
Trên máy 2012may2: tạo folder Data.bak chứa 2 subfolder: NhanSu.bak và KeToan.bak, phân quyền như trên.
Lưu ý: 2012may2 có thể đặt tên folder giống như 2012may1 (tùy ý đặt tên).
Bước 3 : Thực hiện trên Namespace Server
Tạo Namespace (khi tạo namespace phải chỉ định Namespace server)
Kiểm tra DFS Namespace service và DFS Replication service trên 2 máy phải ở trạng thái “ running”.
Run -> services.msc
DFS 3
Vào Server Manager -> Tools -> DFS Management
DFS 4
Chọn vào Namespace -> New Namespace
Namespace Server
Server: chỉ định namespace server, ta browse về máy 2012may1
DFS 5
Namespace Name and Settings
Name: DataCongTy
Chọn Edit Setting:
DFS 6
Ta thấy  cấu trúc namespace “ DataCongTy” được lưu trong folder DFS root.
Share folder permissions: phân quyền trên cấu trúc namespace: ta chọn cái thứ 3
Administrators have full access, other users have read-only permissions: admin có toàn quyền, user chỉ cần đọc được cấu trúc là có thể truy cập được, không cần đụng vào cấu trúc namespace làm gì .
Hoặc ta co thể chọn use custom permissions: để phân quyền tùy nhu cầu -> NEXT
Namespace Type: Domain-based namespace: (vì đang làm trên môi trường domain)
DFS 7
Ta NEXT và Create
DFS 8
Sau đó bung Namespaces -> hiện ra đường dẫn luận lý: \\tuhocmang.local\DataCongTy. Đường dẫn này chưa chứa dữ liệu nào. Đây mới chỉ là yếu tố luận lý
DFS 9
Chọn vào đường dẫn -> Add Namespace Server
DFS 10
Ta Browse về server 2012may2 ( cấu hình 2 namespace để đảm bảo 1 trong 2 namespace bị failed thì người dùng vẫn có thể truy xuất dữ liệu)
DFS 11
Phần Edit Settings ta cũng phân quyền như trên -> OK
DFS 12
DFS 13
Qua tab Namespace Serverxuất hiện 2 Namespace Server
DFS 14
( 2 Namespace server sẽ tự đồng bộ namespace)
Bước 4Tại File Server tạo Replicaiton group
Mở cửa sổ DFS Management
Chọn Namespaces -> Add Namespace to display:  để đồng bộ với namespace server khác (nếu chưa tự đồng bộ) -> Browse về 2012may2
DFS 15
Chọn Replication -> New Replication Group
DFS 16
Replication Group Type:
Do ta đang muốn cấu hình file server hướng đến mục tiêu thứ 1: chia tải và chịu lỗi nên chọn Multipurpose replicatiton group -> Next
Name and Domain:
Name of replicationDongBoDaTaCongTy -> Next
DFS 17
Replication Group Member:
Add các máy làm File Server: ta add 2012may1 và 2012may2 -> Next
DFS 18
Topology Selection: Chọn Full Mesh -> Next
DFS 19
Replication Group Schedule and Bandwidth (đã nói ở đầu bài). Ta chọn 64MB
DFS 20
Primary Member: chọn 2012may1
DFS 21
Folders to Replicate: Đồng bộ những folder nào
DFS 22
Chọn Add
DFS 33
Local Path of folder to replicate: ta Browse về folder KeToan
Folder KeToan ta đã phân quyền NTFS rồi (mặc định là giữ lại các quyền NTFS trên folder )
Nếu muốn chỉnh quyền lại thì ta chọn Permissions
Ta thấy rằng, ta cần đồng bộ thêm folder NhanSu. Nhưng ta chỉ cần add 1 folder KeToan thôi. Các folder còn lại thì nên Add sau.
-> Next.
Local Path Of KeToan on Other Member: Chỉ định folder sẽ đồng bộ với folder KeToan. Ta muốn folder KeToan trên 2012may1 sẽ đồng bộ với folder KeToan.bak trên 2012may2
DFS 24
Chọn Edit ->Enable ->Browse về folder KeToan.bak
DFS 25
Make the selected replicated folder on this member read-only: Nếu check vào folder này thì permission trên folder KeToan.bak sẽ như folder KeToan ( quyền sẽ giống Primary Server)
Ở bước này, hệ thống chỉ cho ta chọn 1 folder, đó là lý do tại sao Local Path of folder to replicate ta chỉ chỉ định 1 folder trên 2012may1.
Còn việc đồng bộ giữa NhanSu trên 2012may1 và NhanSu.bak trên 2012may2 ta sẽ làm sau.
Ta Next và Create
DFS 26
Ta tiếp tục chọn New Replicated Folder để cấu hình cho folder NhanSu đồng bộ với folder NhanSu.bak.
Bước 5: Share and Publish
Trên 2012may1
Mở DFS Management -> Namespace -> phải chuột \\tuhocmang.local\DataCongTy -> New Folder
DFS 27
Name: Data
Folder Target: Không khai báo gì cả. -> OK
DFS 28
Data: là 1 thư mục mang tính cấu trúc (Loại 1). Bây giờ ta đi share và publish.
Chọn Replication -> Add Replication to Display -> Chọn DongBoDataCongTy
DFS 29
Chọn vào DongBoDataCongTy -> Bên phải chọn Tab Replicated Folder -> Phải chuột KeToan -> Share and Publish in Namespace
DFS 30
Publishing Method: Chọn Share and publish the replicated folder in a namespace -> Next
DFS 31
Chia tải (Load Balancing): tại 1 thời điểm, nếu file server chỉ có 1, nó tiếp nhận quá nhiều kết nối thì sẽ xử lý không nổi => ta nên xây dựng từ 2 file server trở lên để có thể chia tải
=>dữ liệu trên các file server cần phải đồng nhất ( muốn đồng nhất thì admin copy từ server này sang server kia nếu có sự thay đổi !!!! )
Chịu lỗi (Fail Over): Nếu có 1 file server mà bị chết bất ngờ thì tiêu… Ta cần nhiều server để dự phòng => dẫn đến server 1 hỏng thì phải thông báo cho user để họ chuyển sang truy cập server khác !!!!).
Chỉ riêng việc chia tải và chịu lỗi cũng  làm mệt admin rồi
DFS giúp ta chia tải tự động, đồng bộ dữ liệu tự động. Chịu lỗi trong suốt đối với user ( 1 server chết thì user cũng không biết, vẫn có thể 
Share Replicated Folder: chọn 2012may1
DFS 32
Chọn Edit
DFS 33
Nó yêu cầu ta share folder KeToan và share với quyền gì. Ta chọn Edit Permission -> cho everyone Full control (vì ta đã phân quyền NTFS rồi)
Sau đó chọn tiếp 2012may2 -> Edit
New: share name đặt là KeToan.bak cho dễ quản lý (share name đặt giống 2012may1 khó quản lý)
DFS 34
Namespace Path: Ta sẽ publish folder này ở cấp nào:
DFS 35
Ta Browse về Data => đường dẫn để truy xuất dữ liệu sẽ bắt đầu bằng: \\tuhocmang.local\DataCongTy\Data
New folder name: có thể tạo tên mới để che cấu trúc folder đi ( thay vì mặc định là KeToan)
-> Next
DFS 36
Ta thấy KeToan đại diện cho KeToan và KeToan.bak
-> Share
Nếu muốn thay đổi đường dẫn ta vào Data -> KeToan -> Move Folder để đổi tên lại. ( giả sử đổi lại như hình).
DFS 37
Làm tương tự cho folder NhanSu (Share and Publish)
DFS 38
TEST
+ KT1 truy cập:
\\tuhocmang.local\DataCongTy\Data\KeToan -> tạo folder KT1
Trên folder KeToan và KeToan.bak xuất hiện folder KT1 ( đồng bộ)
+ Disable card mạng 2012may2, KT1 truy cập đường dẫn bình thường ( Chịu lỗi)
KT1 xóa folder KT1 -> Enable card mạng 2012may2 -> vào KeToan.bak thấy mất folder KT1 (đồng bộ)
Lưu ý:
+ Primary Server và Secondary Server là như nhau, chỉ khác là đường dẫn mặc định lấy tên folder của primary Server.
+ DFS Replication chỉ làm việc trên Domain.
+ DFS xây dựng trên môi trường workgroup chỉ hỗ trợ Load Balacing, không hỗ trợ Failover.
1 số link tham khảo:
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s